1. Ban Nick + Xóa Bài Viết + Ban IP Vĩnh Viễn Đối Với Các Thành Viên
    Đăng Không Đúng Chuyên Mục, SPAM bài viết trùng tiêu đề, QC có XXX + phản động + Cờ Bạc + Phá Thai - Mọi người vào UPDATE CHỮ KÝ
    Dismiss Notice

Những trò diễn xướng độc đáo trong hội chùa Dâu

Thảo luận trong 'Du Lịch Trong Nước' bắt đầu bởi kophaithach1, 4/1/18.

  1. kophaithach1

    kophaithach1 Member

    Du lịch Chùa Dâu Bắc Ninh là đến với một trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam, nơi đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Chùa Dâu còn có tên là Cổ Châu hay Pháp Vân, mang dấu ấn của nhiều thời kỳ lịch sử, có hệ thống tượng phong phú, đặc biệt là các tượng Tứ Pháp uy nghi.

    Lịch sử Chùa Dâu Bắc Ninh

    Theo thư tịch cổ, chùa Dâu đã được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên, từ năm 187 đến năm 226 thì hoàn thành. Ngôi chùa tọa lạc ở vùng Dâu (thành cổ Luy Lâu), dưới thời kỳ Sĩ Nhiếp làm Thái thú quận Giao Châu, thủ phủ Kinh Bắc xưa kia.

    [​IMG]

    Những tài liệu, cổ vật còn lại ở chùa Dâu Bắc Ninh, đặc biệt là bản khắc “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” có niên đại 1752, cùng kết quả nghiên cứu về lịch sử Phật giáo của các nhà sử học và Phật học đã khẳng định “Chùa Dâu là tổ đình của Phật giáo Việt Nam”.

    Vào năm 1913, chùa Dâu được xây dựng lại và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Đời nhà Trần, vua Trần Nhân Tông đã cho Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành “chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp”, quy mô bề thế.

    Trải bao thăng trầm và chiến tranh tàn phá, chùa Dâu với tháp gạch sừng sững, với tòa ngang, dãy dọc nguy nga, cổ kính vẫn còn đó. Năm 1962, chùa Dâu đã được xếp hạng Di tích lịch sử. Đến năm 2013, chùa Dâu tiếp tục được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.

    Kiến trúc Chùa Dâu Bắc Ninh

    Tọa lạc trên một khu đất cao, rộng, bằng phẳng, cảnh quan đẹp, chùa Dâu quay về hướng Tây, có kiến trúc kiểu “nội Công ngoại Quốc”, gồm: Tam quan, Tiền thất, Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, hai dãy hành lang, Hậu đường, tháp Hoà Phong; và các công trình phụ trợ: nhà Mẫu, nhà Tổ, nhà khách, vườn tháp, ao chùa, tường bao...

    Tam quan chùa Dâu gồm 3 gian, bộ khung gỗ gác trên 4 hàng chân cột, kết cấu vì nóc kiểu “con chồng, giá chiêng, cốn, bẩy”. Các cấu kiện của Tam quan đều được bào trơn đóng bén, mái lợp ngói, tường hồi bít đốc, mở thông thoáng cả 3 gian.

    Tiền thất (bái vọng đường) gồm 7 gian, 2 chái, với mái lợp ngói, đầu đao cong, bộ khung gỗ, các vì nóc đều được kết cấu theo dạng “tiền kẻ, hậu kẻ, câu đầu, trụ nóc”, tì lực trên 4 đầu cột. Những đầu kẻ ở gian giữa được chạm hoa lá cách điệu. Nội thất bày một số bàn ghế để khách sắp lễ, trước khi vào lễ Phật chùa Dâu.

    [​IMG]

    Tiền đường gồm 7 gian, 2 chái, có 8 bộ vì kèo kiểu “câu đầu, trụ, nóc, cốn, tiền kẻ, hậu bẩy”. Trên các đầu kẻ, bẩy, cốn đều được chạm nổi hoa văn mây lá, tứ linh, tứ quý, triện dây. Ở gian giữa có 2 thành đá chạm rồng theo phong cách nghệ thuật thời Trần. Tiền đường chùa Dâu thờ Hộ Pháp, Đức Ông, Đức Thánh Hiền, Bát Bộ Kim Cương.

    Thiêu hương còn được gọi là ống muống, gồm 3 gian, nối liền Tiền đường và Thượng điện. Hệ thống đỡ hoành mái gồm 4 bộ vì, mỗi vì đều được gác trên 4 đầu cột. Trong Thiêu hương chùa Dâu thờ Thập điện Diêm Vương, Mạc Đĩnh Chi và Thái tử Kỳ Đà.

    Thượng điện gồm 1 gian, 2 chái, với 4 bộ vì, 4 mái đao cong. Bảo lưu được hai bộ vì nóc kiểu “giá chiêng”, với khoảng giữa gắn hình lá đề chạm nổi đôi rồng chầu mặt trời và hai trụ trốn bên chạm nổi hình phỗng. Thượng điện chùa Dâu thờ Pháp Vân, tượng Bà Trắng, Bà Đỏ, Thạch Quang Phật, Quan Âm thiên thủ thiên nhãn...

    Hai dãy hành lang song song với nhau, nối Tiền thất và Hậu đường. Mỗi dãy gồm 22 gian và được chia thành 2 phần: hành lang phía trước 12 gian và hành lang phía sau 10 gian, được ngăn cách bởi một bộ cửa ván bưng. Hành lang phía sau là nơi thờ 18 vị La Hán.

    Hậu đường gồm 9 gian, 2 dĩ, bộ khung gỗ, vì nóc được kết cấu theo kiểu “trụ, quá giang, kẻ”. Hậu đường chùa Dâu thờ Đức ông, Quan Âm, Thánh Hiền, Địa Tạng Vương, Hậu Phật. Trung tâm điện Phật có các tượng Tam Thế, Quan Âm chuẩn đề.

    [​IMG]

    Tháp Hòa Phong dựng giữa sân chùa Dâu, được xây bằng loại gạch cỡ lớn, nung tới độ có màu sẫm già của vại sành, với 3 tầng, cao 15m. Tầng thứ nhất, bốn mặt đều có cửa, xây cuốn vòm. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ “Hòa Phong tháp”. Trên cùng là vòm mái, được xây cuốn bằng gạch, dánh khum như long đình. Trong lòng tháp, phía dưới có bệ thờ “Tứ trấn Thiên Vương” bằng gỗ phủ sơn, cao 1.6m; phía trên treo chuông đồng đúc năm 1793, khánh đồng đúc năm 1817. Trước cửa phía Tây có 2 tượng sóc đá, mang phong cách nghệ thuật thời Lê, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, bên trái có tượng một con cừu đá, là dấu vết duy nhất còn sót lại từ thời đầu Công Nguyên.
    Lễ hội Chùa Dâu Bắc Ninh

    Hàng năm, lễ hội chùa Dâu ở Bắc Ninh được tổ chức vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Đây được coi là lễ hội cổ nhất còn tồn tại đến ngày nay. Sử sách lưu rằng, các vua chúa thường về đây dự hội, lễ Phật, cầu đảo. Dân gian lưu truyền câu thơ:

    “Dù ai đi đâu về đâu
    Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về
    Dù ai buôn bán trăm nghề
    Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu”

    Trong dịp lễ hội chùa Dâu sẽ diễn ra các nghi thức cổ truyền và nhiều trò diễn xướng dân gian, thu hút đông đảo người dân trong vùng và du khách tour lễ hội 2018 thập phương về dự hội, cúng lễ, dâng hương chiêm bái. Hoạt động nổi bật là các làng tổ chức rước tượng Tứ Pháp từ chùa của làng mình về chùa Dâu “công đồng” hội tụ các yếu tố Mây + Sấm + Chớp = Mưa, đám rước gồm ngựa thờ, cờ lọng, cống bát quái... khi tới chùa Dâu thì diễn ra trò “cướp nước” đặc sắc.
     

Chia sẻ trang này